Giao quyền tự chủ cho trường ĐH: Kinh nghiệm từ quá trình cải cách GDĐH của Hàn Quốc

(GD&TĐ) - Trong những tháng gần đây và đặc biệt là trong những ngày vừa qua, dư luận cả nước đang rất quan tâm đến dự thảo Luật Giáo dục Đại học hiện đang được Quốc hội xem xét và dự kiến thông qua vào kỳ họp tới với mong muốn tạo ra được một sự đột phá trong chính sách trao quyền tự chủ cho các trường đại học.


Để góp một góc nhìn khác, tôi xin giới thiệu một bài viết tổng quan về quá trình đổi mới giáo dục đại học trong hơn ba thập kỷ vừa qua của Hàn Quốc.

Có hai lý do chính mà tôi chọn Hàn Quốc để liên hệ tới quá trình đổi mới giáo dục hiện nay của Việt Nam. Thứ nhất là, hiện nay Hàn Quốc đang là nước có những thành tựu to lớn về phát triển khoa học công nghệ và trong đó không thể không kể đến những thành tựu to lớn trong giáo dục đại học của Hàn Quốc. Do đó, việc xem xét một hiện tượng thành công như Hàn Quốc là cần thiết cho những nước phát triển sau như Việt Nam.

Thứ hai là, mặc dù, Hàn Quốc và Việt Nam hiện nay là hai nước có nền kinh tế và hệ thống chính trị khác nhau, nhưng nếu nhìn vào chỉ số GDP trên đầu người và hệ thống chính trị của Hàn Quốc vào những năm đầu 1980 khi nước này bắt đầu đổi mới giáo dục đại học thì có thể nhận thấy những nét tương đồng với Việt Nam hiện nay.

Trước hết, xin có một vài tổng kết về những thành tựu giáo dục đại học của Hàn Quốc như sau. Đến năm 2005, Hàn Quốc đã có khoảng 80% dân số trong độ tuổi từ 18-21 theo học tại các trường cao đẳng, đại học (1). Năm 2000, trong 10 ngàn người Hàn Quốc đã có 390 có trình độ đại học, cao hơn mức trung bình của 15 nước có nền công nghiệp phát triển nhất là 340 (1) (Việt Nam tính đến năm 2010, có tỉ lệ là 195 sinh viên/vạn dân, MOET).

Tỉ lệ đầu tư cho giáo dục đại học của Hàn Quốc đạt 2.6 % GDP, chỉ đứng sau Hoa kỳ (2.9 %) trong số các nước thuộc OECD vào năm 2003 (1). Đặc biệt từ năm 1999 đến 2012, Chính phủ Hàn Quốc đã chi riêng 3.4 tỉ USD cho chương trình quốc gia “Trí tuệ Hàn Quốc thế kỷ 21 – Brain Korea 21) nhằm thúc đẩy đào tạo sau đại học và nghiên cứu trong các trường đại học (8). Do đó, năm 2008, số lượng các bài nghiên cứu của Hàn Quốc được đăng trên các tạp chí quốc tế đạt 700/triệu dân, gấp gần một trăm lần Việt Nam, chỉ có 9/triệu dân (4).

Năng lực nghiên cứu của Hàn Quốc được giải thích một phần do đội ngũ ngảng viên, khi năm 2006, nước này đã có 83.6% giảng viên đại học có bằng tiến sỹ, trong khi năm 1970 chỉ có 18.1% và năm 1983 là 40% (1), (Tính đến năm 2010, Việt Nam chỉ có 10%, MOET).

Có một sự khác biệt lớn nữa giữa hai hệ thống giáo dục đó là trong số 419 trường đại học, cao đẳng của Hàn Quốc tính đến năm 2005, thì chỉ có 20% sinh viên đại học và 4% cao đẳng học tại các trường công lập (1), trong khi hiện nay, Việt Nam chỉ có 14.4 % sinh viên đại học và cao đẳng học tại các trường ngoài công lập (MOET). Từ năm 1990, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức chi ngân sách hỗ trợ các trường tư thục của Hàn Quốc.

Mặc dù có được thành tựu đáng ghi nhận như hiện nay, Hàn Quốc đã có nhiều thập kỷ hạn chế quyền tự chủ của các trường đại học. Thực vậy, cho đến trước thời điểm đổi mới và giao quyền tự chủ toàn diện cho các trường đại học của Hàn Quốc vào năm 1995, chính sách giáo dục đại học của Hàn Quốc được cho là rất tập trung. Bộ Giáo dục Hàn Quốc giữ quyền kiểm soát:

1.      Việc thành lập các trường đại học.

2.      Đặt ra các quy định về thời lượng chương trình, năm học, chỉ tiêu tuyển sinh, tiêu chuẩn thi cử, chuẩn hoàn thành khóa học, kiểm định chất lượng.

3.      Việc bổ nhiệm, khen thưởng hiệu trưởng; đề ra các chuẩn chất lượng giáo viên.

4.      Duyệt chỉ tiêu tuyển sinh, và quy định hình thức thi tuyển đầu vào đại học.

5.      Xác định chương trình khung, yêu cầu đăng ký tốt nghiệp để kiểm soát số lượng sinh viên.

6.      Duyệt chi ngân sách, xác định chuẩn cơ sở vật chất, thư viện, v.v.

7.      Quy định trình tự báo cáo của các trường về tài chính, nhân sự, sinh viên lên Bộ Giáo dục (9).

Và thực tế là chính phủ Hàn Quốc cũng đã loay hoay trong hai thập kỷ 70-80 của thế kỷ trước để tìm ra mô hình cho đổi mới giáo dục đại học. Cụ thể là, trong thời gian này, Hàn Quốc đã có ít nhất là 6 lần thay đổi lại quy định tuyển sinh đại học: lúc thì Bộ Giáo dục quy định đề chung, lúc thì trường được phép ra đề, lúc thì kết hợp cả hai hình thức tùy theo từng đối tượng.

Tuy vậy, đến năm 1995, Hàn Quốc đã chính thức cải cách hoàn toàn cơ chế quản lý xin cho và tập quyền để dứt khoát trao quyền tự chủ cho các trường với những nội dung cơ bản như sau:

1.      Đa dạng hóa và chuyên sâu hóa hệ thống giáo dục đại học

2.      Đa dạng hóa các tiêu chí cho phép thành lập các trường đại học tư thục

3.      Trao quyền tự chủ cho các trường quyết định chỉ tiêu tuyển sinh và quản lý trường

4.      Tạo hệ thống hỗ trợ đặc biệt cho nghiên cứu khoa học

5.      Gắn kết chặt chẽ giữa đánh giá chất lượng của trường đại học với hỗ trợ tài chính từ Chính phủ (9)

Tuy vậy, câu hỏi đặt ra là để có được sự dứt khoát đoạn tuyệt với chính sách quản lý cũ, Hàn Quốc đã phải trải qua những dấu mốc cải tổ nào, và làm cách nào để Chính phủ Hàn Quốc giám sát chất lượng giáo dục của các trường khi giao toàn quyền tự chủ cho các trường đại học. Đây là điều mà các nhà quản lý cũng như nhiều độc giả quan tâm.

Thứ nhất, từ năm 1982, Hiệp hội các trường đại học Hàn Quốc được thành lập (Korean Council for University Education – KCUE). Hiệp hội này nhằm thúc đẩy nghiên cứu, hợp tác giữa các trường, và đánh giá, kiểm định chất lượng. Nó đóng vài trò cầu nối giữa Bộ Giáo dục và các trường đại học (9). Sau 10 năm thử nghiệm, năm 1992, Hiệp hội chính thức được Chính phủ và Bộ Giáo dục Hàn Quốc công nhận là cơ quan độc lập phi chính phủ, có vai trò chủ chốt trong việc đánh giá, kiểm định các chương trình giáo dục của các trường thành viên.

Thứ hai, sau hai thập kỷ loay hoay với đổi mới giáo dục, năm 1987, cùng mới quá trình dân chủ hóa nền chính trị Hàn Quốc, Bộ Giáo dục đã đề ra Kế hoạch Tự chủ hóa các trường đại học (University Autonomization Plan). Thực chất đây là quá trình đổi mới về tư duy phát triển giáo dục đại học bắt nguồn từ việc nhận thức rõ được những bất cập của chính sách quản lý tập trung.

Những bất cập đó là: (1) kìm kẹp sáng tạo và đổi mới trong mỗi cơ sở giáo dục; (2) không phù hợp với tình hình mới khi bản sắc của từng trường cần được phát huy; (3) thiếu tính linh hoạt và thích ứng; (4) làm tăng sự quan liêu trong quản lý của các trường, trái ngược với bản chất và chức năng của giáo dục đại học (9).

Do đó, bản kế hoạch cải cách năm 1987 thực chất là tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong quản lý của các trường; mở rộng sự tham gia của đội ngũ giáo viên trong quản lý của nhà trường; tăng cường chất lượng giáo dục thông qua mở rộng quyền của giáo viên; tăng cường quyền tự quyết của các trường; và bảo vệ và phát huy quyền tự chủ của các trường đại học và cao đẳng (6).

Bản đề xuất này đã được hợp thức hóa bằng bản Đề xuất Cải cách của Hội đồng Tổng thống về Cải cách Giáo dục vào ngày 31/05/1995 (Presidential Commission on Educational Reform – PCER) và được chính thức luật hóa bằng Đạo Luật Giáo dục Đại học năm 1998.

Có hai cơ chế nổi bật trong cải cách giáo dục đại học của Hàn Quốc nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội của các trường khi được giao toàn quyền tự chủ. Một là gắn đánh giá chất lương giáo dục (bằng một cơ quan kiểm định độc lập) với hỗ trợ tài chính từ chính phủ; hai là quy định rõ việc thành lập hội đồng trường và điều lệ trường nhằm giám sát hoạt động của các trường.

Qua phân tích quá trình đổi mới giáo dục đại học của Hàn Quốc như trên, có thể rút ra một số điểm mấu chốt liên hệ tới quá trình đổi mới giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay.

Một là, quá trình đổi mới thực sự khởi nguồn vào năm 1982 (lúc đó GDP trên đầu người của Hàn Quốc là 3,012 USD so với 3,142 của Việt Nam năm 2010, IMF) (10) từ việc thành lập hiệp hội các trường đại học. Tuy vậy phải mất 10 năm, thì hiệp hội này mới chính thức được công nhận là cơ quan độc lập, giám sát và kiểm định chất lượng của hơn 200 trường thành viên.

Hai là, quá trình đổi mới chính sách xuất phát từ sự đổi mới sâu xa về tư duy: từ việc coi trường đại học là cơ sở do nhà nước sinh ra, và cần chịu sự quản lý của nhà nước đến tư duy coi trường đại học là một thực thể xã hội độc lập, có vai trò nuôi dưỡng sáng tạo khoa học và truyền bá kiến thức. Từ cơ chế xin cho, định hướng đến cơ chế khuyến khích sáng tạo tri thức và phát huy tính đa dạng vốn có của bất kỳ một xã hội nào.

Bài viết này, với mục đích giới thiệu quá trình đổi mới giáo dục đại học của Hàn Quốc, như là một thí dụ để Việt Nam nhìn vào và đúc rút những kinh nghiệm, tránh những vết xe đổ, giảm thiểu những chi phí cơ hội để nhanh chóng phát triển khoa học và kỹ thuật, phục vụ phát triển dân trí và kinh tế xã hội.

Thực tế, việc đổi mới chính sách phụ thuộc vào lịch sử dân tộc, hệ thống chính trị và điều kiện kinh tế xã hội. Tuy nhiên, đó không phải là cái cớ để xem nhẹ những giá trị toàn cầu (universal values), mà đối với giáo dục đại học là tính sáng tạo, sự đa dạng và tự do học thuật, và mục tiêu truyền bá trí thức nhân loại.

Đặng Văn Huấn,

(NCS tại đại học Portland State, Hoa Kỳ)

 Tài liệu tham khảo:

1.      Baker, D. P & Wiseman, A. W. (2008). The worldwide transformation of higher education. (ed). Emerald JAI Press: UK

2.      Choong Nam Kim. (2007). The Korean presidents: leadership for national building. EastBridge: Norwalk, Connecticute, USA

3.      Hayden, M & Lam, T. (2007). Institutional autonomy for higher education in Vietnam. Higher Education Research & Development, Vol. 26, No. 1, pp. 73–8

4.      P.D. Hien. (2010). A comparative study of research capabilities of East Asian countries and implications for Vietnam. Published online: 24 February 2010, Springer Science and Business Media

5.      Kim, T. (2008). Higher education reform in South Korea: public-private problems in internationalizing and incorporating universities. Policy Future In Education: Vol 6, No 5, 2008.

6.      Lee, S. (2006). Korean higher education: Its emergence, development & future challenges. Hakjisa Published: South Korea.

7.      Lee, J. (2002). Korean higher education: a Confucian perspective. Jimoondang Publishing Company: Seoul, Korea.

8.      Seong, S et all. (2008). Brain Korea 21 Phase II. RAND Corporation: CA, US

9.      Weidman, J. C & Park, N. (2000). Higher education in Korea: Tradition and adaptation. Falmer Press: NY

10. Word Economic Outlook Database 2011: Gross domestic product based on purchasing-power-parity (PPP) per capita GDP. Vietnam in 2011 and South Korea in 1982. International Monetary Fund Official Website.

11. Ministry of Education and Training Annual Statistic Report 2010 (MOET) retrieved at http://www.moet.gov.vn/?page=11.1

(Theo http://www.gdtd.vn)